Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia
Tại phiên họp thứ 48 tháng 4 năm 2007, Uỷ ban thường vụ  Quốc hội khoá XI đã thông qua Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Ngày 30 tháng 4 năm 2007, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh số 04/2007/ L - CTN công bố Pháp lệnh này. 


      
I. SƯ CẦN THIẾT BAN HÀNH PHÁP LỆNH 

Bảo vệ các công trình quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là một trong những nội dung quan trọng của công tác bảo vệ an ninh quốc gia, luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ đối với từng loại công trình, mục tiêu. Cụ thể như: Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông năm 1994; Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự năm 1994; Nghị định số 106/NĐ - CP ngày 27 tháng 10 năm 1997 quy định các mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm vũ trang canh gác bảo vệ; Pháp lệnh cảnh vệ năm 2005 quy định về nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan đầu não của trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhiều công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia cần phải được đưa vào diện bảo vệ, trong khi các quy định của pháp luật hiện hành chưa xác định được tiêu chí cụ thể để đánh giá tầm quan trọng liên quan an ninh quốc gia của từng công trình; hơn nữa, cũng chưa quy định công tác bảo vệ trong việc khảo sát, thiết kế, xây dựng các công trình này. 

Hiện nay,  tình hình quốc tế và khu vực đang có những diễn biến phức tạp, hoạt động khủng bố, phá hoại xảy ra ở nhiều nơi đe doạ an ninh, trật tự ở mỗi quốc gia. Các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” tiến hành phá hoại từ nhiều hướng, trên mọi lĩnh vực nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ Nhà nước Xã hội chủ nghĩa. Trong đó, chúng tập trung phá ta về chính trị nội bộ, phá hoại kinh tế nhất là đối với các công trình liên quan mật thiết tới quốc kế dân sinh. Do vậy, yêu cầu bảo vệ an ninh, an toàn các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia đặt ra cấp thiết. Theo đó, đòi hỏi phải có một văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể để các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức kinh tế, các lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân thực hiện công tác bảo vệ an toàn tuyệt đối các công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia. 

Vì vậy, việc xây dựng và ban Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. 

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG PHÁP LỆNH 

Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia được xây dựng dựa trên những quan điểm sau: 

1. Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là một trong những nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia đã được quy định tại Điều 14 của Luật an ninh quốc gia, luôn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước và điều hành của Chính phủ; là nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang nhân dân và mọi công dân. 

2. Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia phải lấy phòng ngừa là chính và phải được quán triệt từ lúc chọn địa điểm, khảo sát, thiết kế, thi công, quản lý và sử dụng. 

3. Kế thừa các quy định hợp lý đang phát huy tác dụng tốt cũng như kinh nghiệm thực tiễn về bảo vệ công trình quan trọng có liên quan đến an ninh quốc gia những năm qua. Gắn việc bảo vệ các công trình này với nhiệm vụ phát triển kinh tế và nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. 

4. Tiếp thu có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm của các nước về bảo vệ công trình quan trọng có liên quan đến an ninh quốc gia để vận dụng phù hợp với đặc điểm, điều kiện của Việt Nam. 

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LỆNH 

Pháp lệnh gồm 5 Chương với 24 điều. Cụ thể như sau: 

1. Chương I. Những quy định chung

Chương này gồm 10 điều ( từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; nguyên tắc bảo vệ; nhiệm vụ bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ công trình; lực lượng bảo vệ công trình; kinh phí bảo đảm cho hoạt động bảo vệ; chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; những hành vi bị nghiêm cấm và xử lý khi có vi phạm. 

1.1. Phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh (Điều 1): Pháp lệnh này quy định về nguyên tắc, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; lực lượng bảo vệ, chính sách, điều kiện bảo đảm cho hoạt động bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

1.1.1 Theo Pháp lệnh này, công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia được hiểu là những công trình có đủ hai tiêu chí nêu tại Điều 11 của Pháp lệnh: 

Một là, công trình tập trung bí mật nhà nước hoặc là nơi lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng hoặc là nơi bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái hoặc là cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia.

Hai là, công trình đòi hỏi phải áp dụng công tác bảo vệ đặc biệt, tuyệt đối an toàn trong quá trình khảo sát, thiết kế, xây dựng, quản lý và sử dụng. 

Trong hai tiêu chí trên đây, tiêu chí thứ hai không được lượng hoá cụ thể mà phải định tính, dựa trên ý thức cảnh giác cách mạng, sự hiểu biết về tình hình, âm mưu hoạt động của các đối tượng (kẻ địch, tội phạm) đối với công trình, do tính chất, chức năng, quy mô của công trình quy định, nếu để xảy ra sự cố, phá hoại sẽ gây ra tác hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. 
Về tiêu chí thứ nhất, không được hiểu nội dung của tiêu chí là bao gồm tất cả, mà chỉ cần một trong bốn nội dung sau đây: 
- Công trình tập trung bí mật nhà nước. 
- Công trình là nơi lưu giữ, bảo quản hiện vật, tài liệu có giá trị đặc biệt quan trọng. 
- Công trình là nơi bảo quản vật liệu, chất đặc biệt nguy hiểm đối với con người, môi trường sinh thái.      
- Công trình là cơ sở vật chất đặc biệt quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia. 
Theo đó, trên thực tế, một công trình chỉ cần có một trong bốn nội dung của tiêu chí thứ nhất cộng với tiêu chí thứ hai là được xem xét đưa vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 
Căn cứ vào hai tiêu chí quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh, Hội đồng thẩm định (quy định tại Điều 13) của Pháp lệnh có trách nhiệm thẩm định danh mục công trình do các bộ , ngành và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị, sau đó trình Chính phủ quyết định đưa vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Hình thức quyết định của Chính phủ về danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia và Quy chế làm việc của Hội đồng thẩm định sẽ được quy định trong Nghị định hướng dẫn thi hành pháp lệnh. 

1.1.2 Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia không thay thế các pháp lệnh hiện hành bảo vệ từng lĩnh vực hoặc công trình cụ thể như Pháp lệnh bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; Pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông; Pháp lệnh về khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi... Trường hợp các công trình nói trên được xác định là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia thì ngoài pháp lệnh chuyên ngành, việc bảo vệ công trình đó còn phải tuân thủ Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

1. 2. Đối tượng áp dụng (Điều 2): Pháp lệnh này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, các cơ quan, tổ chức, công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia. Cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được có những hoạt động gây phương hại đến an ninh quốc gia của Việt Nam hoặc hoạt động trái với quy định của pháp lệnh này. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy đọnh khác thì áp dụng điều ước quốc tế đó.  

1. 3.Về nguyên tắc bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 3): Nội dung điều này là sự cụ thể hoá nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia đã được nêu tại Điều 5 Luật an ninh quốc gia, bao gồm ba nguyên tắc: 
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. 
-  Kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu bảo vệ công trình với các yêu cầu xây dựng phát triển kinh tế- xã hội. 
- Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vị xâm phạm an ninh, an toàn công trình. 

1. 4.Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia (Điều 5): Pháp lệnh nêu bốn nhóm trách nhiệm của các chủ thể này trong công tác bảo vệ. Trách nhiệm này xuất phát từ quan điểm sự nghiệp cách mạng là của quần chúng, đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, công dân. 

1. 5.Về lực lượng bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia (Điều 6): Bao gồm 3 lực lượng chính: 
- Một là,  lực lượng bảo vệ của Bộ Công an trực tiếp bảo vệ các công trình thuộc thẩm quyền của Bộ Công an quản lý và những công trình khác do các ngành, địa phương quản lý, song cần có lực lượng Công an trực tiếp bảo vệ. 
- Hai là, lực lượng bảo vệ của Bộ Quốc phòng trực tiếp bảo vệ các công trình quốc phòng, khu quân sự do Bộ Quốc phòng quản lý. 
- Ba là, lực lượng bảo vệ của các cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý công trình liên quan an ninh quốc gia, lực lượng này sẽ được tổ chức theo quy định của Chính phủ. Hiện nay tổ chức và hoạt động của lực lượng bảo vệ của các cơ quan, doanh nghiệp đang thực hiện theo Nghị định số 73/2001/NĐ-CP ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ, tới đây Bộ Công an sẽ sơ kết và đề nghị sửa đổi bổ sung Nghị định này cho phù hợp tình hình mới. Đồng thời Ban soạn thảo Pháp lệnh đang xây dựng quy định của Chính phủ về trường hợp người nước ngoài làm bảo vệ tại các công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia.     

1. 6.Về kinh phí bảo đảm hoạt động bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 7):  Dựa vào nguồn vốn đầu tư xây dựng làm căn cứ thì công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia có hai loại. 

Thứ nhất,  là công trình được đầu tư 100% vốn từ ngân sách nhà nước. Trong trường hợp này, kinh phí dành cho công tác bảo vệ được ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định của Chính phủ. 
Thứ hai,  công trình được đầu tư từ các nguồn vốn khác, không phải từ ngân sách nhà nước (ví dụ công trình do nước ngoài đầu tư, công trình liên doanh với nước ngoài...). Trong trường hợp này, nhà nước đảm bảo kinh phí dành cho hoạt động của lực lượng bảo vệ thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và hỗ trợ kinh phí đào tạo, huấn luyện cho lực lượng bảo vệ thuộc cơ quan, tổ chức quản lý công trình. Các chi phí khác đảm bảo yêu cầu bảo vệ thường xuyên công trình do chủ đầu tư chịu trách nhiệm. 

Vấn đề kinh phí bảo đảm hoạt động bảo vệ công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia là nội dung được Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan tập trung thảo luận trong quá trình xây dựng Pháp lệnh. Căn cứ từ tình hình thực tế và dự báo sự phát triển trong thời gian tới, Pháp lệnh đã quy định như trên nhằm đề cao trách nhiệm từ phía nhà nước trong việc bảo đảm kinh phí cho hoạt động bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, bất kể công trình đó được đầu tư từ nguồn vốn nào; đồng thời tranh thủ mọi nguồn lực, thu hút mọi nguồn kinh phí từ phía các nhà đầu tư, nhà quản lý và các chủ thể khác dành cho hoạt động bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

1. 7.Về chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 8): Pháp lệnh quy định chung như những người có thành tích trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự xã hội tuỳ theo thành tích được xét khen thưởng theo các mức, nếu thiệt hại về tài sản, sức khoẻ thì bản thân và gia đình được đền bù theo quy định của pháp luật. 

1. 8.Về những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9): Pháp lệnh quy định 5 loại hành vi bị nghiêm cấm  và hướng xử lý vi phạm theo Điều 10 . 

2. Chương II. Xác lập danh mục công trình quan trọng liên quan an ninh quốc gia 

Chương này gồm 3 điều ( từ Điều 11 đến Điều 13) quy định tiêu chí xác định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; trình tự, thủ tục, thẩm định và thẩm quyền quyết định danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; cơ quan thẩm định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

2. 1.Về tiêu chí xác định công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 11):Có 2 tiêu chí cơ bản, như đã nêu ở phần phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh . 

2. 2Về trình tự, thủ tục thẩm định và thẩm quyền quyết định danh mục quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 12), Pháp lệnh quy định:

-  Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập danh mục công trình thuộc thẩm quyền quản lý của ngành, địa phương mình, gửi Hội đồng thẩm định xem xét, trình Chính phủ quyết định danh mục công trình là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia và quy định hành lang bảo vệ công trình. 
-  Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Công an làm Chủ tịch và có thành viên gồm đại diện các bộ, cơ quan ngang bộ, tổ chức có liên quan. Nếu công trình thuộc lĩnh vực do Bộ Quốc phòng quản lý thì Bộ trưởng Bộ quốc phòng làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định, có đại diện của Bộ Công an và bộ ngành liên quan là thành viên.

Một điểm  cần chú ý trong Chương II, là đối với các công trình hiện có đang khai thác (như thuỷ điện Hoà Bình, cầu Bãi Cháy) thì hồ sơ đề nghị sẽ bao gồm những tài liệu gì và hiệu lực pháp lý khi công trình được đưa vào danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia như thế nào?.  Đây cũng là một nội dung được quan tâm thảo luận trong khi xây dựng pháp lệnh; sau đó đã thống nhất ý kiến đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ quy định và hướng dẫn chi tiết nội dung này để việc quy định có thể vận dụng thực hiện trong thực tế đối với các công trình cụ thể. Ví dụ công trình hiện có thì hành lang bảo vệ xác định như thế nào cho phù hợp; hồ sơ đề nghị không bao gồm thuyết minh (dự án thiết kế) mà xem xét thực trạng hiện tại (tính chất, chức năng phục vụ, địa điểm, báo cáo tình hình liên quan an ninh trật tự...).  

3. Chương III. Lực lượng bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến  an ninh quốc gia.

Chương này gồm 4 điều ( từ Điều 14 đến Điều 17) quy định về thẩm quyền quyết định tổ chức lực lượng bảo vệ công trình; nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, của các  cơ quan, tổ chức quản lý công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; tiêu chuẩn người làm công tác bảo vệ của lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 
Theo pháp lệnh quy định Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cơ cấu tổ chức lực lượng bảo vệ công trình căn cứ vào yêu cầu bảo vệ và tính chất, quy mô của từng công trình do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý. 

3.1.Về nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng (Điều 15): Có 6 nhiệm vụ cụ thể: 
-  Tổ chức thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất các chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh, an toàn công trình. 
-  Tiến hành các hoạt động bảo vệ công trình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. 
-  Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trong trường hợp cần thiết vì yêu cầu bảo vệ công trình phải hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp đó thì phải được người có thẩm quyền quyết định. 
- Tổ chức, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm các quy định bảo vệ công trình. 
- Tuần tra, canh gác bảo vệ công trình và hành lang bảo vệ công trình. 
- Hướng dẫn, kiểm tra lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý công trình thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh, an toàn công trình. 

3. 2.Quyền hạn của lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng
 Lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng có những quyền hạn sau: 
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật khi có căn cứ xác định, liên quan đến hoạt động bảo vệ công trình. 
-  Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh, an toàn cho người và công trình trong quá trình khảo sát thiết kế, xây dựng, khai thác và sử dụng. 
-  Được sử dụng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. 

3. 3.Về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng bảo vệ cơ quan, tổ chức quản lý bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 16) gồm 8 nhiệm vụ và có các quyền hạn sau:
-  Kiểm tra, đôn đốc các bộ phận, đơn vị, cán bộ, công chức và những người làm việc trong công trình thực hiện các quy định về công tác bảo vệ. 
-  Kiểm tra người, phương tiện ra vào công trình; xử lý những trường hợp vi phạm quy định về công tác bảo vệ theo quy định của pháp luật. 
-  Được sử dụng các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật bảo vệ công trình và các biện pháp khác theo sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền do pháp luật quy định. 
- Được sử dụng công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác theo quy định của pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình. 

3. 4. Về tiêu chuẩn người làm công tác bảo vệ của lực lượng bảo vệ, của cơ quan tổ chức quản lý công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia: Phải là công dân Việt Nam; có lý lịch rõ ràng; phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ và được huấn luyện nghiệp vụ bảo vệ. Trường hợp đặc biệt người nước ngoài làm công tác bảo vệ các công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia sẽ do Chính phủ quy định. 

4. Chương IV. Quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.

Chương này gồm 5 điều ( từ Điều 18 đến Điều 22) quy định nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ công trình; quyền hạn của Chính phủ trong quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia;Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, của các bộ, cơ quan ngang bộ và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. 

4.1. Theo pháp lệnh quy định, thì: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia thuộc Bộ Quốc phòng quản lý (được hiểu là các công trình quốc phòng thuộc danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia). 

4. 2. Trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Điều 21): 
-   Lập danh mục, đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia do bộ, cơ quan ngang bộ trực tiếp quản lý, đề nghị cơ quan thẩm định theo quy định của pháp lệnh này. 
-  Thực hiện hướng dẫn về tổ chức và nghiệp vụ bảo vệ của Bộ Công an trong thực hiện các quy định về bảo vệ công trình thuộc quyền quản lý. 
-   Chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thực hiện các quy định về bảo vệ công trình thuộc quyền quản lý của mình. 
-  Tạo điều kiện cho chủ đầu tư quản lý công trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, an toàn công trình. 

4. 3.Trách nhiệm trong quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 22): Thực hiện một số nội dung quản lý Nhà nước như các bộ, cơ quan ngang bộ đối với công trình thuộc thẩm quyền quản lý ở địa phương. 

5. Chương V. Điều khoản thi hành

Chương này gồm 2 điều  (Điều 23 và  Điều 24), quy định hiệu lực thi hành và trách nhiệm thi hành Pháp lệnh này. Theo đó, Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trong liên quan đến an ninh quốc gia có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 10 năm 2007. 

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Để Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia sớm đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng tích cực, trong thời gian tới các bộ, ngành, địa phương sẽ tổ chức triển khai một số công việc sau đây: 
1. Cơ quan được giao chuẩn bị văn bản sớm trình Chính phủ ban hành  các văn bản dẫn thi hành pháp lệnh trước ngày có hiệu lực thi hành.   
2. Xây dựng kế hoạch triển khai, tuyên truyền và thực hiện Pháp lệnh bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia trong cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên, người lao động  thuộc mình quản lý và các tầng lớp nhân dân. 
  
Loại văn bản :Pháp lệnh
Lĩnh vực :Công an
Toàn văn luật đã ban hành :Xem chi tiết

Hỗ trợ

 
Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0988631168
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0996322948
  • Đăng ký kinh doanh - Giấy phép
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Lê Thị Xuyên
  • 0978053957
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Mr Dũng
  • 01686319999
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Thành lập doanh nghiệp
  • TÊN NHÂN VIÊN
  • 0422155966
  • Thành lập doanh nghiệp
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mr Vũ
  • 0938188889
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • Mr Dũng
  • 01687696666
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • ĐIỂM TIN

    Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...

    Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.