Luật Giáo dục
Hệ thống giáo dục quốc dân. Qua hơn 5 năm thực hiện, Luật Giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Hệ thống giáo dục được đổi mới và từng bước kiện toàn; quy mô học sinh, sinh viên tăng cao, mạng lưới trường lớp đ­ược mở rộng; trình độ dân trí và chất lư­ợng nguồn nhân lực đư­ợc nâng lên; việc thực hiện công bằng trong giáo dục có bư­ớc phát triển mới; các điều kiện bảo đảm phát triển  giáo dục đư­ợc bổ sung đáp ứng ngày càng tốt hơn các hoạt động của toàn ngành. 



I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LUẬT GIÁO DỤC NĂM 2005 

1.  Sự cần thiết sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998
Việc sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998 căn cứ vào những cơ sở sau đây: 

a) Xuất phát từ tình hình giáo dục 
Luật Giáo dục đ­ược Quốc hội n­ước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 là cơ sở pháp lý quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Qua hơn 5 năm thực hiện, Luật Giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Hệ thống giáo dục được đổi mới và từng bước kiện toàn; quy mô học sinh, sinh viên tăng cao, mạng lưới trường lớp đ­ược mở rộng; trình độ dân trí và chất lư­ợng nguồn nhân lực đư­ợc nâng lên; việc thực hiện công bằng trong giáo dục có bư­ớc phát triển mới; các điều kiện bảo đảm phát triển  giáo dục đư­ợc bổ sung đáp ứng ngày càng tốt hơn các hoạt động của toàn ngành. 

Tuy nhiên, trư­ớc sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động giáo dục, nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân cũng nh­ư đòi hỏi mới của nền kinh tế đã xuất hiện những bất cập làm xã hội hết sức quan tâm. Cơ cấu của hệ thống giáo dục chư­a cân đối, chất l­ượng và hiệu quả giáo dục còn thấp, quản lý nhà n­ước về giáo dục chư­a đổi mới mạnh mẽ, các điều kiện giành cho giáo dục còn khó khăn. Thực tế những năm qua cho thấy, quan điểm “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” chư­a được nhận thức đầy đủ trong xã hội, chư­a thực sự chi phối sự chỉ đạo tổ chức thực tiễn của nhiều cán bộ quản lý và cấp quản lý, kể cả về đầu tư­ cho giáo dục và tạo cơ chế cho tổ chức và hoạt động giáo dục. Trong quản lý về giáo dục chư­a tạo ra đ­ược sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực l­ượng xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục. Sự phối hợp giữa giáo dục nhà trư­ờng, gia đình và xã hội chư­a đúng mức. Nhu cầu về tạo cơ chế phối hợp đồng bộ trong hoạt động giáo dục và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nư­ớc về giáo dục đặt ra những yêu cầu bức xúc sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998. Sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998 để xác định rõ hơn hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động giáo dục và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà n­ước trong quản lý giáo dục, giữa các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục. 

 b) Quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng, các quy định mới của Hiến pháp năm1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định những quan điểm và phương hướng cơ bản  để tiếp tục  nâng cao chất lư­ợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, ph­ương pháp dạy và học, hệ thống tr­ường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", thực hiện công bằng trong giáo dục. Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ­ương khoá IX đã có những kết luận quan trọng về giáo dục, trong đó xác định những nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cần tập trung thực hiện. Nghị quyết Hội nghị trung ­ương chín (Khoá IX) nêu rõ: "Tiếp tục triển khai mạnh trong thực tiễn quan điểm phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu... Nâng cao rõ rệt chất l­ượng giáo dục và đào tạo. Giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà n­ước trong giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung, ch­ương trình và phư­ơng pháp giáo dục theo h­ướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam cùng với đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. Kiên quyết giảm hợp lý nội dung ch­ương trình học cho phù hợp với tâm sinh lý của học sinh cấp tiểu học và trung học cơ sở. Khẩn tr­ương triển khai đề án phát triển và nâng cao chất l­ượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; cơ cấu lại hệ thống đào tạo, hoàn thiện hệ thống đào tạo thực hành định hư­ớng nghề nghiệp, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ chế và điều kiện để các trư­ờng đại học và các trường dạy nghề chuyển mạnh sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Đổi mới cơ chế, chính sách tạo kinh phí cho giáo dục và đào tạo; xác định công khai và phù hợp phần đóng góp của ng­ười học, kiên quyết đấu tranh khắc phục các tiêu cực trong dạy và học, đồng thời có chính sách đảm bảo cho con các gia đình nghèo cũng có điều kiện đ­ược học tập. Tăng cư­ờng hợp tác với nư­ớc ngoài vào lĩnh vực đào tạo đại học, sau đại học và đào tạo nghề; khuyến khích, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên ra nư­ớc ngoài học tập đi đôi với tăng c­ường quản lý công tác l­ưu học sinh. Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lư­ợng đào tạo, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục,  xây dựng xã hội học tập". 

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi)  tiếp tục quy định, làm rõ hơn các vấn đề về giáo dục tại Điều 35, Điều 36, Điều 59 và một số quy định ở các điều khác. 
Các quan điểm và chủ trư­ơng của Đảng, các quy định mới trong Hiến pháp  về phát triển sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ mới cần thiết đư­ợc thể chế hoá trong Luật Giáo dục (sửa đổi). 

c) Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
 Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ có những bư­ớc phát triển nhảy vọt trong thế kỷ XXI, vấn đề đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Sau khi có Luật Giáo dục năm 1998, Chính phủ đã ban hành một số nghị định quy định về việc hợp tác quốc tế về giáo dục đã tạo điều kiện cho việc mở rộng các hoạt động hợp tác giáo dục, đào tạo ở trong n­ước và ngoài n­ước. Sửa đổi Luật Giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất n­ước trong thời kỳ hội nhập và phát triển những thập niên đầu của thế kỷ XXI. 

Từ những căn cứ trên đây, việc sửa đổi Luật Giáo dục là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội đặt ra, tạo cơ sở pháp lý khắc phục những khó khăn, yếu kém và đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh trong lĩnh vực giáo dục. 

Tháng 5/2003 ban soạn thảo Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đã được thành lập và đi vào hoạt động. Ban soạn thảo đã lần lượt chỉnh lý 22 bản dự thảo để trình Quốc hội và ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật giáo dục và Luật đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 11/2005/L – CTN ngày 27 tháng 6 năm 2005.

2. Bố cục và nội dung  của Luật giáo dục
 Luật Giáo dục năm 2005 có 9 ch­ương, 120 điều cụ thể như­ sau: 

a) Ch­ương I. Những quy định chung gồm 20 điều, từ điểu 1 đến điều 20; quy định về phạm vi điều chỉnh; mục tiêu giáo dục; tính chất, nguyên lý giáo dục; hệ thống giáo dục quốc dân; yêu cầu về nội dung, ph­ương pháp giáo dục; ch­ương trình giáo dục; ngôn ngữ dùng trong nhà tr­ường và cơ sở giáo dục khác, dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số, dạy ngoại ngữ; văn bằng, chứng chỉ; phát triển giáo dục; quyền và nghĩa vụ học tập của công dân; phổ cập giáo dục; xã hội hoá sự nghiệp giáo dục; đầu tư­ cho giáo dục; quản lý nhà n­ước về giáo dục; vai trò và trách nhiệm của nhà giáo; vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục; kiểm định chất l­ượng giáo dục; nghiên cứu khoa học; không truyền bá tôn giáo trong các tr­ường, cơ sở giáo dục khác; cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục. 

b) Ch­ương II. Hệ thống giáo dục quốc dân gồm 27 điều, từ điểu 21 đến điều 47 quy định về giáo dục mầm non (mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp, ch­ương trình giáo dục, cơ sở giáo dục); giáo dục phổ thông (mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phư­ơng pháp, chư­ơng trình giáo dục, sách giáo khoa, cơ sở giáo dục, xác nhận hoàn thành chư­ơng trình tiểu học và cấp văn bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông); giáo dục nghề nghiệp (mục tiêu, yêu cầu về nội dung, ph­ương pháp, chương trình, giáo trình, cơ sở giáo dục, văn bằng, chứng chỉ); giáo dục đại học và sau đại học (mục tiêu, yêu cầu về nội dung, ph­ương pháp, ch­ương trình, giáo trình, cơ sở giáo dục, văn bằng); giáo dục thư­ờng xuyên (yêu cầu về ch­ương trình, nội dung, phư­ơng pháp, cơ sở giáo dục, văn bằng, chứng chỉ). 

c)Ch­ương III. Nhà tr­ường và cơ sở giáo dục khác gồm 22 điều, từ điểu 48 đến điều 69 quy định tổ chức, hoạt động của nhà tr­ường (nhà trư­ờng trong hệ thống giáo dục quốc dân; trường của cơ quan nhà n­ước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, của lực lư­ợng vũ trang nhân dân; thành lập nhà trư­ờng; thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà tr­ường; điều lệ nhà tr­ường; hội đồng tr­ường, hiệu tr­ưởng, hội đồng tư­ vấn trong nhà trư­ờng; tổ chức Đảng trong nhà trường, đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà tr­ường); nhiệm vụ và quyền hạn của nhà tr­ường (nhiệm vụ và quyền hạn của tr­ường trung cấp, tr­ường cao đẳng, trư­ờng đại học trong nghiên cứu khoa học phục vụ xã hội, quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tr­ường trung cấp, tr­ường cao đẳng, tr­ường đại học); các loại trư­ờng chuyên biệt (trường phổ thông dân tộc nội trú, tr­ường phổ thông dân tộc bán trú, tr­ường dự bị đại học, tr­ường chuyên, tr­ường năng khiếu, tr­ường lớp dành cho ng­ười tàn tật, khuyết tật, tr­ường giáo dưỡng); Chính sách đối với tr­ường dân lập, t­ư thục (nhiệm vụ và quyền hạn của trường dân lập; tư­ thục; chế độ tài chính, quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nh­ượng vốn; chính sách ­ưu đãi); tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục khác. 

d) Ch­ương IV. Nhà giáo gồm 13 điều, từ điểu 70 đến điều 82 quy định nhiệm vụ và quyền của nhà giáo (giáo sư­, phó giáo sư­, nhiệm vụ của nhà giáo, quyền của nhà giáo, thỉnh giảng,  các hành vi nhà giáo không đ­ược làm, Ngày nhà giáo Việt Nam); đào tạo và bồi dưỡng nhà giáo (trình độ chuẩn đ­ược đào tạo của nhà giáo; tr­ường s­ư phạm, nhà giáo của tr­ường cao đẳng, tr­ường đại học); chính sách đối với nhà giáo (bồi d­ưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; tiền lương, chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trư­ờng chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn). 

đ) Ch­ương V. Ng­ười học gồm 10 điều, từ điểu 83 đến điều 92 quy định nhiệm vụ và quyền của ng­ười học (ng­ười học; quyền và chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non, nhiệm vụ của ngư­ời học, quyền của ng­ười học, nghĩa vụ làm việc có thời hạn theo sự điều động của nhà nước; các hành vi bị cấm đối với ng­ười học); chính sách đối với ng­ười học (học bổng và trợ cấp xã hội; chế độ cử tuyển; tín dụng giáo dục; miễn, giảm phí dịch vụ công cộng cho học sinh, sinh viên). 

e) Ch­ương VI. Nhà tr­ường, gia đình và xã hội gồm 6 điều, từ điểu 93 đến điều 98 quy định trách nhiệm của nhà tr­ường; trách nhiệm của gia đình; quyền của cha mẹ hoặc ngư­ời giám hộ của học sinh; ban đại diện cha mẹ học sinh; trách nhiệm của xã hội; Quỹ khuyến học, Quỹ bảo trợ giáo dục. 

g) Ch­ương VII. Quản lý nhà n­ước về giáo dục gồm 15 điều, từ điểu 99 đến điều 105 quy định nội dung quản lý nhà n­ước và cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đầu tư­ cho giáo dục (các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục; ngân sách nhà n­ước chi cho giáo dục; tiên đầu t­ư tài chính và đất đai xây dựng tr­ường học; khuyến khích đầu tư­ cho giáo dục; học phí, lệ phí tuyển sinh; ­ưu đãi về thuế trong xuất bản sách giáo khoa, sản xuất thiết bị dạy học, đồ chơi); hợp tác quốc tế về giáo dục (khuyến khích hợp tác về giáo dục với n­ước ngoài, khuyến khích hợp tác về giáo dục với Việt Nam, công nhận văn bằng n­ước ngoài); thanh tra giáo dục (quyền hạn, trách nhiệm của Thanh tra giáo dục, tổ chức hoạt động của Thanh tra giáo dục). 

h) Ch­ương VIII. Khen th­ưởng và xử lý vi phạm gồm 5 điều, từ điểu 114 đến điều 118  quy định phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ư­u tú; khen th­ưởng đối với tổ chức, cá nhân có thành tích trong giáo dục; khen thư­ởng đối với ng­ười học; phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự; xử lý vi phạm. 

i) Ch­ương IX. Điều khoản thi hành gồm 2 điều, điểu 119 và điều 120 quy định về hiệu lực thi hành và h­ướng dẫn thi hành.

4. Những điểm mới cơ bản của Luật Giáo dục năm 2005
Luật Giáo dục năm 2005 đ­ược xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định của Luật Giáo dục năm 1998. So với Luật Giáo dục năm 1998 thì Luật Giáo dục năm 2005 bỏ bớt 03 điều, bổ sung 13 điều mới, sửa đổi 83 điều (trong đó có 68 điều được chỉnh lý về nội dung và 15 điều chỉnh lý về kỹ thuật). 
13 điều mới bổ sung là: 
-         Điều 6. Chư­ơng trình giáo dục; 
-         Điều 16. Vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục; 
-         Điều 17. Kiểm định chất l­ượng giáo dục; 
-         Điều 24. Chư­ơng trình giáo dục mầm non; 
-         Điều 53. Hội đồng tr­ường; 
-         Điều 65. Nhiệm vụ và quyền hạn của trư­ờng dân lập, trư­ờng tư­ thục; 
-         Điều 66. Chế độ tài chính; 
-         Điều 67. Quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nh­ượng vốn; 
-         Điều 68. Chính sách ­ưu đãi; 
-         Điều 75. Các hành vi nhà giáo không đ­ược làm; 
-         Điều 84. Quyền của trẻ em và chính sách đối với trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non; 
-         Điều 88. Các hành vi ng­ười học không đ­ược làm; 
-         Điều 96. Ban đại diện cha mẹ học sinh. 

Bên cạnh việc bổ sung các điều mới thì nhiều điều của Luật năm 1998 đã được sửa đổi khá cơ bản như­  Điều 4 quy định về hệ thống giáo dục quốc dân, Điều 7 quy định về ngôn ngữ dùng trong nhà tr­ường và cơ sở giáo dục khác; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số; dạy ngoại ngữ, Điều 14 quy định về quản lý nhà n­ước về giáo dục, Điều 20 quy định việc cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục, Điều 48 quy định về nhà tr­ường trong hệ thống giáo dục quốc dân, Điều 50 quy định về điều kiện thành lập tr­ường, Điều 58 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà tr­ường, Điều 77 quy định về trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo, Điều 90 quy định về chế độ cử tuyển, Điều 105 quy định về học phí và lệ phí tuyển sinh.... Một số quy định mới cụ thể nh­ư việc bỏ kỳ thi tốt nghiệp trung học cơ sở; bỏ loại hình tr­ường bán công; quy định về học phí; quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường trong việc cấp văn bằng, huy động và sử dụng các nguồn lực, tuyển dụng và quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên…là những quy định có tác động mạnh đến hoạt động giáo dục 

Có thể khái quát những nội dung mới đ­ược bổ sung ở năm nhóm vấn đề sau: 

Một là, hoàn thiện một bư­ớc về hệ thống giáo dục quốc dân, khẳng định vị trí của giáo dục thư­ờng xuyên, phát triển giáo dục nghề nghiệp theo ba cấp đào tạo, tăng khả năng liên thông, phân luồng giữa các bộ phận của hệ thống; 

Hai là, chú trọng các quy định nhằm nâng cao chất l­ượng và hiệu quả giáo dục, xác định rõ yêu cầu về ch­ương trình giáo dục, về điều kiện thành lập nhà trường, xác định những tiêu chí cơ bản để một tr­ường đại học hoặc viện nghiên cứu đư­ợc phép đào tạo trình độ tiến sỹ, định h­ướng về công tác kiểm định chất l­ượng giáo dục, tạo điều kiện chuyển đổi từ đào tạo theo năm học sang đào tạo theo tích luỹ tín chỉ, tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục; 

Ba là, nâng cao tính công bằng xã hội trong giáo dục và tăng thêm cơ hội học tập cho nhân dân đặc biệt là cơ hội học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số, các đối t­ượng đ­ược h­ưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo; 

Bốn là, tăng c­ường quản lý nhà n­ước về giáo dục, xác định những quy phạm nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực, xác định rõ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà tr­ường, đặc biệt là các tr­ường dạy nghề, các tr­ường trung cấp, cao đẳng và đại học; 

Năm là, khuyến khích đầu tư­ mở tr­ường ngoài công lập đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao chất lư­ợng hoạt động của các trư­ờng dân lập, tư­ thục. 
 
II. MỘT SỐ QUY CỤ THỂ:

1.     Hệ thống giáo dục quốc dân:
Tại Điều 4 của Luật quy định "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên". Đây là sự đổi mới cơ bản so với Luật Giáo dục năm 1998, trong đó coi giáo dục thường xuyên không chỉ là một phương thức học tập mà còn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời của nhân dân. 

Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân gồm: giáo dục mầm non (có nhà trẻ và mẫu giáo), giáo dục phổ thông (có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông), giáo dục nghề nghiệp (có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề), giáo dục đại học và sau đại học (có các trình độ: cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ). Như vậy, tên của các cấp học ở giáo dục phổ thông không thay đổi còn tên của trung học chuyên nghiệp đổi thành trung cấp chuyên nghiệp tránh tâm lý không thoải mái vì học xong trung học này lại vào trung học kia. 

2.     Về văn bằng, chứng chỉ:
Văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp, bằng tốt nghiệp cao đẳng, bằng tốt nghiệp đại học, bằng thạc sỹ, bằng tiến sỹ (Điều 8). So với Luật cũ thì Luật mới bỏ bằng tốt nghiệp tiểu học. Theo quy định tại  Khoản 1 Điều 31 thì "Học sinh học hết chương trình tiểu học có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được hiệu trưởng trường tiểu học xác nhận trong học bạ việc hoàn thành chương trình tiểu học . 

3.     Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân (Điều 10):
Điều này cụ thể hoá quy định tại Điều 59 của Hiến pháp năm1992 cụ thể như sau: 
"Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. 
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập. 
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng. 

Nhà nước ưu tiên tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật, đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình". 

4.     Phổ cập giáo dục (Điều 11):
Luật mở rộng đối tượng phổ cập giáo dục bao gồm cả cấp trung học cơ sở. Đây là sự thể chế hoá chủ trương của Đảng trong các nghị quyết gần đây. Thực tế, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. Đến tháng 10/2004 đã có 20 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Theo chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, cả nước sẽ phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010.

5.     Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục (Điều 12):
Luật bổ sung quy định " Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân". Trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình, công dân có trách nhiệm phối hợp với nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục.

6.     Bỏ thi tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở (Điều 31):
Việc bỏ thi tốt nghiệp tiểu học đã được quy định tại nghị quyết số 37/2004/ QH11, nay được chính thức ghi nhận trong Luật. Riêng việc bỏ thi tốt nghiệp trung học cơ sở đã được Quốc hội thảo luận rất sôi nổi và cuối cùng đã được thông qua với quy định: "Học sinh học hết chương trình trung học cơ sở có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo thì được Trưởng phòng giáo dục và đào tạo huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở". Thực hiện phương án này đòi hỏi vừa phải đổi mới cách học, cách dạy, vừa phải nâng cao trách nhiệm của học sinh, của thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục, của gia đình và chính quyền địa phương. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo sát sao việc thực hiện chương trình giáo dục, tổ chức tốt việc kiểm tra hết môn, kiểm tra học kỳ, kiểm tra cuối năm để bảo đảm chất lượng giáo dục ngay trong quá trình dạy và học; tổ chức tốt việc tuyển sinh vào các trường trung học phổ thông, trường trung cấp theo hướng bảo đảm tính nghiêm túc, công bằng, khách quan, tránh gây những căng thẳng quá mức cần thiết. 

7.  Về trung tâm học tập cộng đồng( Điều 46):   
Trung tâm học tập cộng đồng là một mô hình giáo dục mới xuất hiện trong thời gian gần đây song đã phát triển hết sức mạnh mẽ. Theo thống kê thì hiện nay đã có gần 6000 trung tâm học tập cộng đồng trong cả nước. Chính vì vậy, tại Điều 46 của Luật quy định về Cơ sở giáo dục thường xuyên đã ghi nhận chính thức "Trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức tại xã, phường, thị trấn "cùng với "Trung tâm giáo dục thường xuyên tổ chức tại cấp tỉnh và cấp huyện "là hai loại hình cơ sở chuyên làm nhiệm vụ giáo dục thường xuyên . 

Trung tâm học tập cộng đồng thực hiện các chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học; cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ. Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành. 

8.Về việc bỏ loại hình trường bán công (Điều 48): 
Khoản 1 Điều 48 quy định: 
"1. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây: 
a) Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên; 
b) Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí hoạt động; 
c) Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước". 
Như vậy, trong hệ thống giáo dục quốc dân không có loại hình trường bán công. Khái niệm trường dân lập, trường tư thục cũng có nhiều điểm mới so với các quy định trước đây (có thể nói trường tư thục theo Luật Giáo dục  năm 2005 bao gồm cả trường dân lập và trường tư thục theo quy định hiện hành). 

9. Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường
Điều 58 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường trong đó có một số điểm mới quan trọng như: 
-  Được xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền. 
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình điều động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ, nhân viên. 
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật. 
- Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá. 
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục. 
Cần lưu ý các quy định trên đây là quy định cho nhà trường ở tất cả các cấp học, trình độ đào tạo. Như vậy, không chỉ các trường đại học, cao đẳng mà các nhà trường đều được giao nhiều việc mới, đồng thời cũng phải thực hiện những trách nhiệm mới theo hướng phân cấp mạnh cho cơ sở trong quản lý giáo dục. 

10. Về chính sách đối với trường dân lập, trường tư thục:
Trong Luật Giáo dục năm 2005 đã bổ sung một mục mới gồm 4 điều (từ Điều 65 đến Điều 68) quy định về chính sách đối với trường dân lập, trường tư thục. Theo đó, trường dân lập, trường tư thục được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, về đội ngũ, về huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực; trường dân lập, trường tư thục thực hiện nhiệm vụ về chuyên môn như các trường công lập; văn bằng, chứng chỉ do trường dân lập, trường tư thục cấp có giá trị pháp lý như trường công lập. Luật cũng quy định về chế độ tài chính, về quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nhượng vốn cũng như các chính sách ưu đãi khác đối với trường dân lập, trường tư thục. Những quy định này thể hiện rõ nét chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước ta, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, tạo cơ chế cho việc phát triển mạnh mẽ các cơ sở giáo dục ngoài công lập. 

11. Về các hành vi nhà giáo không được làm (Điều 75):
Đây là những quy định mới trong Luật nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật, tính mô phạm, góp phần gìn giữ truyền thống tốt đẹp của nhà giáo. Theo đó, nhà giáo không được có các hành vi sau: 
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của người học. 
- Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai hết kết quả học tập, rèn luyện của người học; 
-  Xuyên tạc  nội dung giáo dục. 
-  Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền. 

12. Về quyền và nghĩa vụ của người học:
Luật đã bổ sung, làm rõ một số quyền của người học như được "học ở tuổi cao hơn tuổi quy định, học kéo dài thời gian"; "Được cấp văn bằng, chứng chỉ sau khi tốt nghiệp cấp học, trình độ đào tạo theo quy định" đồng thời cũng quy định thêm nhiệm vụ của người học  phải "đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, rèn luyện" và tham gia ''hoạt động bảo vệ môi trường". Đặc biệt, Luật bổ sung một điều mới quy định các hành vi người học không được làm. Đó là: 
- Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, nhân viên của cơ sở giáo dục và người học khác; 
- Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử, tuyển sinh; 
- Hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học; gây rối an ninh, trật tự trong cơ sở giáo dục và nơi công cộng. 

13. Về chế độ cử tuyển (Điều 90):
Điều này được sửa đổi khá cơ bản trong đó tập trung vào một số vấn đề sau: 
Mục đích của cử tuyển: Nhà nước thực hiện tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung cấp theo chế độ cử tuyển đối với học sinh các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn để đào tạo cán bộ, công chức, viên chức cho vùng này. 
Biện pháp: Nhà nước dành riêng chỉ tiêu cử tuyển đối với những dân tộc thiểu số chưa có hoặc có rất ít cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; có chính sách tạo nguồn tuyển sinh trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi để học sinh các dân tộc này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học. 
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: căn cứ nhu cầu của địa phương để đề xuất chỉ tiêu, phân bổ chỉ tiêu theo ngành, nghề phù hợp, cử  người đi học theo đúng chỉ tiêu và phân công công tác cho người được cử đi học sau khi tốt nghiệp. 

14.  Về mối quan hệ nhà trường, gia đình, xã hội:
Luật dành toàn bộ chương VI với 6 điều (từ Điều 93 đến Điều 98) để quy định về vấn đề này. 
- Điều 93 quy định về trách nhiệm của nhà trường phải "chủ động phối hợp với gia đình và xã hội" để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục; 
- Điều 94 quy định trách nhiệm của gia đình phải tạo điều kiện cho con em và cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục; 
- Điều 95 quy định quyền của cha mẹ hoặc người giám hộ học sinh được tham gia vào các hoạt động giáo dục theo kế hoạch của nhà trường và được biết các thông tin liên quan; 
- Điều 96 quy định về Ban đại diện cha mẹ học sinh được tổ chức trong mỗi năm học ở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông do cha mẹ học sinh từng lớp, từng trường cử ra để phối hợp với nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục (Như vậy, không có Ban đại diện học cấp xã, huyện, tỉnh và cũng không có Hội đồng cha mẹ học sinh như hiện đang tồn tại ở một số nơi); 
- Điều 97 quy định trách nhiệm của xã hội trong đó nhấn mạnh vai trò của cơ quan Nhà nước, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và công dân có trách nhiệm động viên, tạo điều kiện cho việc học tập, rèn luyện, xây dựng phongủcào học tập, góp phần vào việc giáo dục toàn diện. 

15.  Khuyến khích đầu tư cho giáo dục ( Điều 104):
Để thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức , tiền của cho giáo dục. Các khoản đầu tư của doanh nghiệp cho giáo dục là các khoản chi phí hợp lý được trừ khi tính thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; các khoản đóng góp, tài trợ của cá nhân cho giáo dục được xem xét để miễn, giảm thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; Nhà nước có hình thức ghi nhận sự đóng góp, tài trợ cho giáo dục. 

16. Học phí, lệ phí tuyển sinh (Điều 105):
Học phí, lệ phí tuyển sinh là khoản tiền của gia đình người học hoặc người học phải nộp để góp phần bảo đảm chi phí cho các hoạt động giáo dục. Ngoài học phí và lệ phí tuyển sinh, người học hoặc gia đình người học không phải đóng góp khoản tiền nào khác. 
Cơ chế thu và sử dụng học phí do Chính phủ quy định. Mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh do Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định đối với cơ sở giáo dục công lập trực thuộc trung ương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục công lập thuộc cấp tỉnh. 
Các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục được quyền chủ động xây dựng mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh. 

17. Khen thưởng 
Để ghi nhận, động viên đối với tổ chức cá nhân có thành tích trong giáo dục, Điều 115 quy định: "Tổ chức, cá nhân có thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáo dục được khen thưởng theo quy định của pháp luật". 

18. Xử lý vi phạm 
Điều 118 quy định 10 nhóm hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục. Đó là: 
-         Thành lập cơ sở giáo dục hoặc tổ chức hoạt động giáo dục trái phép; 
-         Vi phạm các quy định về tổ chức, hoạt động của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; 
-         Tự ý thêm, bớt số môn học, nội dung giảng dạy đã được quy định trong chương trình giáo dục; 
-         Xuất bản, in, phát hành sách giáo khoa trái phép; 
-         Làm hồ sơ giả, vi phạm quy chế tuyển sinh, thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; 
-         Xâm phạm nhân phẩm, thân thể nhà giáo; ngược đãi, hành hạ người học; 
-         Gây rối, làm mất an ninh, trật tự trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác; 
-         Làm thất thoát kinh phí giáo dục; lợi dụng hoạt động giáo dục để thu tiền sai quy định; 
-         Gây thiệt hại về cơ sở vật chất của nhà trường hoặc cơ sở giáo dục khác; 
-         Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giáo dục. 
 Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, các đối tượng cụ thể có thể bị xử lý kỷ luật , xử phạt hành chính, xử lý hình sự, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Luật Giáo dục có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. Để hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai soạn thảo 27 văn bản trong đó có 8 nghị định, 3 quyết định của Thủ tướng, 14 văn bản của Bộ trưởng và 2 văn bản liên tịch. Theo kế hoạch, các văn bản này sẽ hoàn thành chậm nhất vào quý III/2005. 
          Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với Sở Tư pháp và các cơ quan hữu quan tổ chức tuyên truyền phổ biến Luật Giáo dục trong nhân dân, nhất là các nội dung liên quan đến người học cho học sinh, sinh viên và Hội cha mẹ học sinh.

Loại văn bản :Luật
Lĩnh vực :Giáo dục
Toàn văn luật đã ban hành :Xem chi tiết
[ Back ]
BẮC VIỆT LUẬT ( BVL LAWFIFM)
" HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN"
-------------------------------------------
LIÊN HỆ DỊCH VỤ Ở ĐÂY:
HOTLINE: 0938188889 - 0988631168(Luật sư Vũ Dũng)
Email: ceo@bacvietluat.vn – hoặc dichvu@bacvietluat.vn
Website: www.sanduan.vn - www.bacvietluat.vn - www.tuvanluat.com.vn
HOẶC BẠN ĐIỀN VÀO Ô DƯỚI ĐÂY ĐỂ GẶP LUẬT SƯ:
Contact service requirements for law BVL Lawfirm.
Name
Email
Title
Content + Tel